Tìm hiểu sự nghiệp của hải thượng lãn ông qua một số tài liệu lưu trữ

*


*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*

Hải Thượng Lãn Ông là vị danh y nổi tiếng, là người thầy y đức của nền y học cổ truyền Việt Nam, không chỉ tinh thông y thuật, ông còn là người học cao, hiểu biết sâu rộng về văn chương, dịch lý. Sự uyên bác về y thuật của ông được vinh danh là “Danh nhân Việt Nam thế kỷ XVIII” và nhận được sự kính trọng của đông đảo nhân dân
Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (theo dương lịch là ngày 11 tháng 12 năm 1720), nguyên quán thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên), mất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791) ở quê mẹ, xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) thọ 71 tuổi. Sinh trưởng trong một gia đình khoa mục, cha là Lê Hữu Mưu đỗ Đệ Tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ công, Triều Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàm Thượng thư và mẹ là Bùi Thị Thưởng.

Bạn đang xem: Tìm hiểu sự nghiệp của hải thượng lãn ông qua một số tài liệu lưu trữ


Lê Hữu Trác lúc nhỏ theo cha đi học ở Kinh thành Thăng Long, nổi tiếng là người thông minh học giỏi, hiểu rộng, thơ hay. Năm Kỷ Mùi (1739), cha mất, ông phải thôi học, về nhà tiếp tục đọc sách, ông thi vào Tam Trường rồi sau không đi thi nữa.
Lê Hữu Trác lớn lên giữa lúc chế độ phong kiến triều Lê đang tan rã, Nhà Trịnh đoạt quyền vua Lê. Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tranh giành quyền lực, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp nơi. Năm 1740, nghĩa quân Hoàng Công Chất đánh chiếm Khoái Châu, sát huyện Yên Mỹ, Lê Hữu Trác khi ấy 20 tuổi, phải lánh đi nơi khác để tiếp tục đọc sách, ông học binh pháp, rồi tòng quân. Song sống trong hàng ngũ quân Trịnh, ông tận mắt nhìn thấy sự mục nát của chính quyền phong kiến, cảnh đau thương của nhân dân.
Được tin người anh ở Hương Sơn tạ thế, Lê Hữu Trác viện cớ xin về nuôi mẹ, ông ra khỏi quân Trịnh. Về nhà ít lâu, Lê Hữu Trác bị bệnh nặng. Ông tìm đến Lương y Trần Độc ở Rú Thành (Nghệ Tĩnh) để điều trị, dưỡng bệnh ở đó hơn một năm. Ông mượn sách thuốc để đọc, lại thấy làm nghề y là có lợi thiết thực cho mình, cho người nên ông quyết chí học thuốc. Khỏi bệnh về nhà, ông mải miết đọc sách thuốc, một lần tướng Trịnh mời ông ra cầm quân, nhưng ông cương quyết chối từ. Ông xác định chí hướng làm thuốc giúp người.
Mùa thu năm Bính Tý (1756), Lê Hữu Trác ra kinh đô để học thêm nhưng không gặp được thầy giỏi, ông mua thêm sách thuốc mang về Hương Sơn nghiên cứu, đồng thời chữa bệnh cho nhân dân ở địa phương. Sau mười năm, ông đã nổi tiếng khắp vùng Hoan Châu (Nghệ Tĩnh).
Từ năm 1760, ông mở lớp truyền dạy y thuật, nghiên cứu kinh điển Trung y kết hợp với y học cổ truyền biên soạn trong 26 năm bộ sách thuốc Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, 28 tập, 66 quyển, là một bộ sách lớn về y học.
Ngày 12/1 năm Cảnh Hưng 43 (1782), Chúa Trịnh triệu Lãn Ông ra chữa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán, Lãn Ông không muốn phải lụy về thư danh, nhưng ông vẫn phải từ biệt quê hương lên kinh đô. Thế tử uống thuốc, bệnh bớt nhưng Lãn Ông xét bệnh khó lòng khỏi, nhân có người tiến cử một lương y khác vào chữa, ông lấy cớ người nhà đau nặng xin về.
Về Hương Sơn, ông bổ sung bộ sách Tâm lĩnh và viết thêm tập Thượng kinh ký sự. Cuốn Thượng kinh ký sự cũng như toàn bộ sách của Lãn Ông là một tài liệu vô giá đối với các môn khoa học, văn học, sử học Việt Nam thời cuối Lê Trịnh, thế kỷ thứ XVII - XVIII.
*

Với những đóng góp của Hải Thượng Lãn Ông cho nền y thuật nước nhà, ngày 16 tháng 10 năm 1985, Bộ Y tế ban hành văn bản số 6083/YH về việc tổ chức lễ Kỷ niệm ngày sinh Hải Thượng Lãn Ông lần thứ 265 (1720-1985) - tài liệu này đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Quốc hội, Hồ sơ 5402.
Văn bản số 6083/YH ngày 16 tháng 10 năm 1985 của Bộ Y tế có nêu: “Hải Thượng Lãn Ông trên 200 năm nay đã để lại cho chúng ta nhiều bài học lớn về y đức”.
Theo quan niệm của Hải Thượng Lãn Ông: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mạng người ta, phải lo cái lo của người và vui với cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người làm phận sự của mình mà không cầu lợi kể công”.(2)
Trong suốt sự nghiệp chữa bệnh cứu người, Lê Hữu Trác luôn tận tụy, hết lòng vì người bệnh, không quản ngại nắng mưa.
“Ông đã đi bộ hai ba mươi dặm đã chữa bệnh ở Huyện Nghi Xuân hay vượt qua núi Thiên Nhẫn trong đêm khuya sương lạnh để cấp cứu bệnh nhân ở Huyện Nam Đàn, Nghệ An (Nghệ Tĩnh), không nề hà khó nhọc.
Ông không phân biệt địa vị trong cứu người và còn cho rằng “nhà giầu không thiếu gì thầy, gì thuốc, còn như nghèo thì khó lòng rước được lương y. Vậy cần lưu tâm cứu chữa cho những người này thì họ mới sống được” chủ cấp cả cơm gạo cho người bệnh vì “có thuốc mà không có ăn uống thì cũng đi đến chỗ chết”.
“Một câu chuyện đến nay còn được nhiều người truyền tụng, Lãn Ông chữa bệnh cho một em bé con nhà thuyền chài nghèo khổ em bé mắc bệnh đậu mùa nặng, săn sóc hơn một tháng trời, không ngày nào bỏ vắng, ông cứu chữa được em lúc khỏi hoàn toàn. Ông không lấy tiền thuốc mà còn giúp đỡ gia đình bệnh nhân cả gạo, cũi, dầu đèn. Nếu xét đến hoàn cảnh xuất thân của Lãn Ông và thành kiến của xã hội đương thời chúng ta mới thấy hết ý nghĩa cao quý trong việc làm trên đây của ông”.(4)
Gặp bệnh nhân hiểm nghèo, Lãn Ông không ngại khó khăn, tránh tiếng, hết lòng cứu chữa, đôi lúc ông còn băn khoăn “e rằng y lý mênh mông không tránh khỏi thiếu sót, hoặc giá bệnh nặng thuốc nhẹ chưa đủ sức chăng?”.(5)
Chí hướng của Lãn Ông về nghề y là mong muốn phải có sự nghiệp đóng góp với đời. Ông quan niệm:“Đạo làm thuốc cũng không khác gì đạo làm tướng”. Làm nghề thuốc trị bệnh cứu người, biến nguy thành an thì sự quan trọng có khác gì làm tướng. Ông coi việc làm nghề y là làm việc nghĩa:
“Đã làm nghề y với ý chí là đem hết sức mình để làm mọi việc đáng làm thì cần trước tác sâu rộng, dương cao ngọn cờ đỏ thắm của nền y học”.(7)
“Khi có chút thì giờ nhàn rỗi nên luôn luôn nghiên cứu sách thuốc xưa nay, luôn phát huy biến hóa, thâm nhập được vào tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm là không phạm sai lầm”.(8)
Không chỉ chữa bệnh, Lãn Ông còn mở lớp truyền dạy y thuật. Ông tìm hiểu quan hệ giữa khí hậu thời tiết với bệnh tật ở nước ta, nhất là bệnh dịch. Ông ghi chép cẩn thận, học hỏi, trao đổi việc chữa bệnh để rút kinh nghiệm.
Trong suốt đời làm thuốc chữa bệnh, hết sức, hết lòng vì người bệnh, ông còn có nhiều đóng góp cho nền y học cổ truyền nước nhà, đúc rút, ghi lại các phương pháp điều trị, về dược vật, nhất là dùng thuốc nam.
*

Bộ Hải thượng y tông tâm lĩnh 66 quyển bao gồm Lý, Pháp, Phương, dược và biến chứng, trị bệnh... và bàn về đạo đức người thầy thuốc, cuốn Vệ sinh yếu quyết hướng dẫn vệ sinh về ăn, ở, phân, nước, rác.
Đọc mấy câu diễn ca sau đây của sách Vệ sinh quyết yếu của ông, ta thấy ông đã chỉ dẫn cho mọi người phương pháp vệ sinh toàn diện theo hoàn cảnh sinh hoạt của nhân dân ta: phòng bệnh tận gốc. Trước hết là tu dưỡng tinh thần và ăn uống kiêng khem như thế nào, từ lúc bẩm sinh trong bụng mẹ đến khi tuổi già, coi lao động là yếu tố chính:
Bộ Y tông tâm lĩnh của ông được đánh giá rất cao, chẳng những phục vụ cho việc truyền dạy y thuật, giúp ích các thầy thuốc mà còn góp phần vào việc tổng kết lý luận và kinh nghiệm y học dân tộc cổ truyền Việt Nam, xây dựng, phát triển nền y học dân tộc cổ truyền một cách hoàn chỉnh.
“Trong bộ Lãn ông tâm lĩnh, ông thường khuyên các nhà làm thuốc phải yêu nghề mình, giữ lấy tính cách cao cả của nghề mình, phải coi mệnh người là trọng”.(10)
Bên cạnh Y tông tâm lĩnh với các nội dung xuất sắc về y thuật, Lê Hữu Trác còn thể hiện tài năng văn chương xuất sắc khi viết cuốn Thượng kinh ký sự. Đây là những trang dã sử quý báu, có giá trị về văn chương và lịch sử.
Thừa kế học thuật tiên y, nêu cao tinh thần độc lập, sáng tạo, tiếp thu học thuật nước ngoài, có phê phán, phát triển
Hải Thượng Lãn Ông có chủ trương thừa kế luận thuyết y học cổ truyền của các tiên y nhưng không quá câu nệ sách vở kinh điển, không sử dụng cổ phương một cách cứng nhắc.
Lãn Ông đề cao óc độc lập suy nghĩ, vận dụng linh hoạt vào chữa bệnh, đúc rút kinh nghiệm làm sáng tỏ nhiều điều ngờ vực, bổ sung những chỗ người xưa chưa nói tới. Trong tập Đạo lưu dư vận, ông biện luận và bổ sung những vấn đề y lý mà các sách xưa chưa nói rõ, nói chưa đúng hoặc chưa bàn đến. Quyển Ngoại cảm thông trị có các phương thuốc thích hợp với tính chất bệnh và cơ thể người Việt Nam.
Coi trọng các nghiệm phương của nhân dân, ông viết tập Bách gia trân tàng ghi chép 644 phương thuốc, một số bài thừa kế của họ ngoại, một số thu lượm trong dân gian, một số ghi lại của người nước ngoài, một số được các y gia truyền hay bán lại cho. Tập Hành giản trân nhu ghi chép 2.210 bài thuốc đơn giản có tác dụng tốt rút trong bản thảo của tiên y và sưu tầm trong nhân trị 126 loại bệnh tử nội, ngoại khoa, thương khoa, cấp cứu.
Trong tập Lĩnh nam bản thảo, ông ghi chép được tính 496 vị thuốc nam biên tập theo Tuệ Tĩnh và 305 vị được bổ sung về công dụng hoặc mới sưu tầm thêm.
Lãn Ông coi nghề y là một nghề cao quý, coi việc bảo vệ sinh mệnh con người là nhiệm vụ hàng đầu. Do đó, ông rất thận trọng khi khám bệnh, chữa bệnh, có trường hợp gặp bệnh nặng, triệu chứng phức tạp, ông đợi hôm sau xem mạch thêm lần nữa và nghiên cứu bệnh tình thật chắc chắn rồi mới cho đơn. Theo ông, một trong 8 tội cần tránh của người thầy thuốc là “ngại đêm mưa vất vả không chịu tới thăm mà đã cho phương, đó là cái tội lười”.
“Đạo làm thuốc là nghệ thuật bảo vệ sinh mệnh con người là nguồn gốc xây dựng đạo đức, người có kiến thức rộng không thể không biết đến, mà đã biết thì phải cho sâu rộng, và tính mệnh người ta ở trong tay mình. Há không nên cẩn thận lắm sao?”, cho nên trong âm án số 10 của Hải Thượng Lãn Ông có ghi “Lại như xét bệnh còn lờ mờ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát”.(11)
Lãn Ông khám bệnh rất kỹ, vận dụng các phương pháp, vọng, văn, vấn, thiết (nhìn, nghe, hỏi, xem mạch người bệnh), chuẩn đoán toàn diện có kết luận chính xác rồi mới kê đơn. Khi kê đơn ông ghi rõ chi tiết và chỉ dẫn cách chế thuốc, sắc thuốc, cách uống, liều lượng rất tỷ mỷ. Gặp trường hợp nguy cấp, ông bình tĩnh giải quyết theo đúng tinh thần “cứu bệnh như cứu hỏa” vừa khẩn trương vừa chu đáo.

Xem thêm: Thứ Tự Các Dây Đàn Guitar Có Mấy Dây Và Thứ Tự Dây Đàn Guitar


Lãn Ông đề cao tinh thần trách nhiệm với bệnh nhân một cách thành khẩn. Ông ghi chép lại những bệnh đã điều trị một cách trung thực, khách quan và khoa học. Y dương án ghi lại những bệnh ông đã chữa khỏi, y âm án ghi lại những bệnh ông chữa không khỏi. Thận trọng trong chữa bệnh, Lãn Ông lại rất khiêm tốn học tập, đêm ngày trao đổi nghề nghiệp, trong lòng luôn luôn nghĩ đến việc giúp đỡ mọi người một cách rộng rãi. Sau vài ba năm học thuốc, ông bắt đầu chữa một số bệnh thông thường trong gia đình, thôn xóm. Khi đã nổi tiếng, ông vẫn lên kinh đô mong tìm thầy học thêm. Lãn Ông cũng tranh thủ gặp gỡ nhiều thầy thuốc trao đổi kinh nghiệm và sưu tầm thêm phương thuốc gia truyền.
Học trong sách vở, học trong quá trình chữa bệnh, học trong nhân dân kết hợp với thái độ thận trọng, phương pháp chuẩn đoán toàn diện trong điều trị là một bài học quý giá trong y đức Hải Thượng Lãn Ông.
Trong tập Y huấn cách ngôn, Hải Thượng Lãn Ông dặn người thầy thuốc “Khi gặp đồng nghiệp cần nên khiêm tốn học nhã, giữ gìn thái độ, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi thì kính trọng, người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng, người kém mình thì dìu dắt học.(12)
Tinh thần của Lãn Ông nhắc chúng ta nhớ lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lá thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế (tháng 2/1955): “trước hết là phải thật thà đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt qua được mọi khó khăn giành được nhiều thành tích”.(13)
*

- Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh qua tài liệu lưu trữ - Quyết định thành lập Bệnh viện Đa khoa thị xã Hồng Lĩnh - Hỗ trợ về nhà ở cho Người có công với cách mạng - Tuyên truyền lịch sử hình thành và phát triển của Hà Tĩnh qua triển lãm 3D trực tuyến - Vũ Quang - 23 năm hình thành và phát triển - Tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 - Câu hỏi 3: Nội dung quản lý nhà nước về công tác văn thư? - Xây dựng Khu lưu niệm Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác - Quan tâm thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng - Tự hào ngôi trường mang tên liệt nữ Nguyễn Thị Bích Châu
- Trường Trung cấp nghề Hà Tĩnh qua tài liệu lưu trữ - Quyết định thành lập Bệnh viện Đa khoa thị xã Hồng Lĩnh - Hỗ trợ về nhà ở cho Người có công với cách mạng - Vũ Quang - 23 năm hình thành và phát triển - Tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 - Xây dựng Khu lưu niệm Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác - Quan tâm thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng - Tự hào ngôi trường mang tên liệt nữ Nguyễn Thị Bích Châu - Thành lập Ủy ban phòng chống bệnh SIDA và quá trình sáp nhập thành Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) - Ngày truyền thống lực lượng Thanh niên xung phong

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724-1791) là một đại danh y - nhà văn lớn - nhà văn hóa xuất sắc của dân tộc. Ông đã để lại cho hậu thế một khối di sản văn hóa đồ sộ, có giá trị sâu sắc, bền vững về nhiều mặt, về cơ bản được tập hợp trong bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” (gồm 28 tập, 66 quyển) - bộ sách được coi là “Bách khoa thư” y học vĩ đại nhất của Việt Nam thời trung đại.


Từ điểm nhìn của thế kỷ XXI, chúng ta có đủ cơ sở để xác định “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” là biểu hiện kết tinh các thành tựu và giá trị về nhiều lĩnh vực, phương diện mà Lê Hữu Trác gửi lại cho hậu thế.

*

Chân dung Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Ảnh internet.

Lê Hữu Trác viết/biên soạn “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” trong khoảng 30 năm cuối đời (tập đầu được hoàn thành năm Canh Dần thời Cảnh Hưng, tức năm 1770). “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập/66 quyển, được coi là bộ “Bách khoa thư y học” đầu tiên của Việt Nam.

Nhìn bộ sách trong tính hệ thống chỉnh thể, không khó để thấy rằng, “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” không chỉ đề cập, bàn luận tới hầu hết các vấn đề của y học/đông y mà còn đề cập tới những vấn đề khác. Những vấn đề của y học/đông y đành rằng là nội dung chủ yếu của bộ sách, nhưng không phải không có quan hệ với các vấn đề và nội dung của nhiều lĩnh vực khác (nhân học, văn hóa, tư tưởng, văn học...). Cả logic hình thức và logic nội tại của bộ sách qua 66 quyển cho thấy tính thống nhất của bộ sách và dụng ý của Lê Hữu Trác.

*

Bộ sách "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" do Đại danh y Lê Hữu Trác biên soạn. Ảnh internet.

Căn cứ vào văn bản “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” và nhìn nó trong mối liên hệ với con người, cuộc đời và hoạt động của tác giả, không khó để thấy rằng, nhiều tư cách (hay phương diện) của một nhân cách - trí tuệ - tâm hồn lớn hội tụ thật đẹp ở Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Với tư cách là một người thầy thuốc, Lê Hữu Trác xứng danh là một lương y, hơn thế, là một đại danh y. Hiếm có trường hợp nào như Lê Hữu Trác, vừa là nhà lập thuyết (bao hàm cả y đức, y lý, y thuật, dược và dưỡng sinh), vừa là nhà thực hành (trực tiếp sáng chế thuốc và trực tiếp chữa bệnh), đồng thời là người kiểm định cả phần lý thuyết và thực hành của mình.

*

Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Tĩnh đang kế thừa và phát huy hiệu quả các giá trị y học của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Hơn ai hết, ít nhất là trong thời đại ông, Lê Hữu Trác thấy trước những khả thi và bất khả thi, những thành công và thất bại của người thầy thuốc với các phương thuốc trong chữa bệnh cứu người; những “Y dương án” (các loại bệnh án có thể chữa được), “Y âm án” (những bệnh án khó hoặc không chữa được), trên cơ sở đó, tìm bài học kinh nghiệm và dự báo tương lai cho hậu thế ngành y tìm phương án giải quyết.

Trong tư cách một đại danh y, Lê Hữu Trác có cả một hệ thống quan điểm, lý luận, từ y đức, y lý, y thuật, đến dược, di dưỡng… Về y lý và y thuật có thể có những điểm ngày nay không còn phù hợp hoặc do lịch sử vượt qua nhưng về cơ bản vẫn mang tính giá trị bền vững.

Về y đức, quan niệm của Lê Hữu Trác với những nét lớn (“Nhân là một đức tính cơ bản”, “là điều kiện tiên quyết để vào nghề y” - quyển Y âm án; “Người thầy thuốc cần có tám chữ: Nhân, Minh, Đức, Trí, Lượng, Thành, Khiêm, Cần”; cần tránh tám chữ/ 8 tội: “lười”, “keo”, “tham”, “dối”, “dốt”, “ác”, “hẹp hòi”, “thất đức” - Y âm án)… vẫn đầy tính thuyết phục và chắc chắn có sức sống trường tồn.

*

Tác phẩm "Thượng kinh ký sự". Ảnh internet.

Với tư cách là một tác gia văn học, Lê Hữu Trác vừa là nhà thơ, vừa là nhà văn; có phong cách, cá tính tài hoa, độc đáo; có đóng góp quan trọng cho lịch sử văn học dân tộc. Lê Hữu Trác để lại một khối lượng thơ không nhỏ, có thể phân thành 2 loại. Loại thứ nhất là “thơ diễn ca” - được dùng như một phương tiện/cách thức để chuyển tải nội dung y học.

Loại thơ thứ hai là “thơ nghệ thuật” (Y lý thâu nhàn lái ngôn phụ chí - những bài thơ sáng tác trong thời kỳ làm thuốc; các bài thơ trong “Thượng kinh ký sự”. Loại thơ này đậm tính trữ tình, dạt dào cảm xúc, ngôn ngữ tinh tế, giàu tính tạo hình và biểu cảm, xứng đáng là những áng thơ đích thực, sáng tác theo cảm hứng và quy luật đặc thù của nghệ thuật thi ca.

*

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một đại danh y, một nhà văn hóa lớn của dân tộc.

Đặc biệt, “Thượng kinh ký sự” (Ký sự lên kinh đô) - phần cuối cùng (quyển 66) của bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” đã đưa Lê Hữu Trác vào danh sách các tác gia lớn của văn học Việt Nam. Có thể xem “Thượng kinh ký sự” vừa như một tác phẩm độc lập, vừa như là phần kết hoặc là “vĩ thanh” có chủ ý của Lê Hữu Trác đối với bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”. “Thượng kinh ký sự” tái hiện một cách chân thực bức tranh hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII với nhiều mảng màu sắc nét: hiện thực Kinh đô và cung vua, phủ chúa; hiện thực xã hội chốn kinh thành; hiện thực quê nhà và các vùng miền trên lộ trình Lê Hữu Trác lên kinh đô.

Với tư cách là một hiện tượng văn hóa/nhà văn hóa, ở Lê Hữu Trác và “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”, càng có nhiều điều cần phải được tiếp tục nghiên cứu. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ am hiểu mà còn vượt lên, biết tổng hợp, tinh lọc các giá trị văn hóa ngoại lai (các triết thuyết: Nho, Phật, Lão, Lý dịch, Kinh dịch, Âm dương, Ngũ hành.../trong thời đại ông, lúc bấy giờ, văn hóa phương Đông tuy là văn hóa khu vực nhưng cũng có ý nghĩa như văn hóa quốc tế) và giá trị văn hóa truyền thống bản địa, ở cả 2 nguồn bác học và dân gian, từ thế kỷ thứ XVIII trở về trước); tổng hợp, tinh lọc tri thức từ nhiều trước tác của tiền nhân, nhất là trên lĩnh vực y học (Bảo sinh diên thọ toàn yếu, Toàn thư của Cảnh Nhạc, Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh v.v...).

*

Khu mô Đại danh y Lê Hữu Trác tại xã Sơn Trung - huyện Hương Sơn.

Tư cách nhà văn hóa ở Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, một mặt là sự “tổng hợp” tư cách một đại danh y và tư cách một nhà văn lớn, mặt khác là sự “vượt lên”, mở rộng hơn nhờ những hoạt động, ứng xử phong phú, đa chiều của ông. Ông vừa là một mẫu hình lương y tận hiến, một mẫu hình của nhà văn sáng tạo, vừa là một mẫu hình trí thức/kẻ sĩ biết “xuất”, “xử”/“hành”, “tàng” tỉnh táo trên cơ sở lấy nghĩa lớn và đức nhân làm trọng.

Lê Hữu Trác và “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” hiện đã được giới thiệu, tìm hiểu và nghiên cứu ở khá nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu như: Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ... Điều này cho thấy sức ảnh hưởng và sự lan tỏa từ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và di sản ông để lại là rất lớn. Lê Hữu Trác thực sự mang tầm vóc quốc tế của một danh nhân văn hóa có tầm ảnh hưởng sâu rộng, đủ sức lãnh sứ mệnh nêu gương và truyền cảm hứng cho nhân loại.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.